Logo

Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu

   Một nhãn hiệu muốn đăng ký bảo hộ thành công cần đáp ứng những điều kiện gì? - Câu hỏi mà bất kỳ chủ nhãn hiệu nào cũng rất quan tâm trước khi tiến hành đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của mình. Tất cả sẽ được giải đáp cụ thể trong bài viết này:

Tổng hợp điều kiện bảo hộ nhãn hiệu - Hướng dẫn thủ tục đăng ký nhãn hiệu

   Để tạo ra một sản phẩm, dịch vụ đủ sức cạnh tranh trên thị trường đã là việc không hề đơn giản. Theo đó là việc đặt tên và xây dựng lên bộ nhận dạng cho nhãn hiệu sản phẩm, dịch vụ đó cũng là nhiệm vụ quan trọng mà không hề dễ dàng. 

   Nhãn hiệu là gì?: "Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp này với các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự của doanh nghiệp khác." (Theo kiwipedia)

   Chính vì đặc điểm "dấu hiệu phân biệt" này mà Luật SHTT 2005 có quy định điều kiện bảo hộ nhãn hiệu, được Công ty Sở hữu trí tuệ Toàn Cầu chúng tôi tổng hợp thành 3 điều kiện chính sau:

Điều kiện 1: Là dấu hiệu nhìn thấy được

   Pháp luật Việt Nam hiện tại chỉ bảo hộ những nhãn hiệu có thể nhận biết bằng thị giác. Dấu hiệu nhìn thấy được phải được thể hiện dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều, hoặc sự kết hợp các yếu tố đó và được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.

Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu

   Việt Nam đã bước đầu đàm phám thành công và ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), và bước đầu tiếp xúc với các quy định về bảo hộ nhãn hiệu cho dấu hiệu phi hình ảnh như mùi hương, âm thanh, ... Khả năng có thể bảo hộ nhãn hiệu cho những đối tượng này sẽ không còn xa, nhưng hiện tại, luật pháp Việt Nam mới chỉ cho phép bảo hộ nhãn hiệu dạng hình ảnh, dấu hiệu nhìn thấy được.

Điều kiện 2: Nhãn hiệu là dấu hiệu không thuộc các dấu hiệu bị loại trừ

   Trong Điều 73, Luật SHTT năm 2005 điều kiện bảo hộ nhãn hiệu, có quy định các dấu hiệu loại trừ, không được phép bảo hộ nhãn hiệu:

 - Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;

 - Dấu hiệu trùng hoặc hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;

 - Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;

 - Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;

 - Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ.

Điều kiện 3: Nhãn hiệu phải có khả năng phân biệt

   "Nhãn hiệu phải có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác". Điều kiện này bao hàm hai yêu cầu:

Thứ nhất: Nhãn hiệu phải có khả năng tự phân biệt:

   Theo Khoản 1 Điều 74 Luật SHTT quy định: “Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ...”

   Có nghĩa là nhãn hiệu được bảo hộ dựa trên nguyên tắc bảo hộ tổng thể tất cả các yếu tố cấu thành nhãn hiệu đó. Nếu trong tổng thể các yếu tố đó có yếu tố được coi là không có khả năng phân biệt hoặc khó nhận biết, khó ghi nhớ thì sẽ được coi là yếu tố loại trừ bảo hộ của nhãn hiệu.

Các trường hợp yếu tố của nhãn hiệu bị coi là không có khả năng tự phân biệt cụ thể là:

  • Các dấu hiệu là hình và hình học đơn giản không có khả năng phân biệt và gây ấn tượng cho thị giác. Tuy nhiên, nếu dấu hiệu là hình vẽ quá rắc rối, phức tạp khiến cho người tiêu dùng không thể nhận biết, ghi nhớ được thì cũng không có khả năng được bảo hộ.
  • Dấu hiệu là các chữ số, chữ cái đứng riêng lẻthuộc ngôn ngữ thông dụng. Tuy nhiên, trường hợp dấu hiệu chữ này đi kèm với các thành phần khác tạo nên tổng thể có khả năng phân biệt hoặc trình bày dưới dạng đồ họa thì có thể được bảo hộ là nhãn hiệu.
  • Dấu hiệu, biểu tượng quy ước đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến ví dụ như: Biểu tượng năm vòng tròn lồng vào nhau của thế vận hội thể thao, hình cán cân công lý biểu tượng cho ngành tư pháp, hình chữ thập biểu tượng cho ngành y tế,... sẽ không được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu.
  • Hình vẽ hoặc tên gọi thông thường, đặc điểm, tính chất vốn có của chính hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu thuộc bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến. Ví dụ: Không thể đăng ký hình ảnh chiếc Giầy cho sản phẩm giầy dép; không thể đăng ký từ “computer” cho sản phẩm máy tính vì từ này là tên gọi trong tiếng Anh của chính sản phẩm. Những từ ngữ, hình ảnh chỉ chủng loại không có khả năng phân biệt nguồn gốc của hàng hóa với người tiêu dùng sẽ không được bảo hộ là nhãn hiệu. Tuy nhiên, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hóa vẫn có thể đăng ký cho những sản phầm hoàn toàn khác loại, không liên quan. Ví dụ: Hãng máy tính Apple đăng ký nhãn hiệu Apple và hình quả táo cho các sản phẩm máy tính, điện thoại của mình.
  • Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, tính chất thành phần, công dụng, giá trị hoặc đặc tính mô tả hàng hóa, dịch vụ. Đây là dấu hiệu chỉ chức năng thông tin về các vấn đề cần thiết và chủ yếu liên quan đến hàng hóa nên chúng không có khả năng phân biệt và không thể sử dụng làm nhãn hiệu. Các cụm từ mô tả hàng hóa như: “nước khoáng thiên nhiên”, “sữa tươi nguyên chất”... không thể đăng ký là nhãn hiệu.
  • Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh;
  • Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi được đăng ký với danh nghĩa chỉ dẫn địa lý, hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

Thứ hai: Nhãn hiệu phải không trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với một trong các đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ quyền SHTT của người khác.

   Chức năng cơ bản của nhãn hiệu là để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Do đó, nếu nhãn hiệu đăng ký lại trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với dấu hiệu của người khác đã được bảo hộ hoặc nộp đơn đăng ký sớm hơn thì nó sẽ không được bảo hộ vì nó không bảo đảm chức năng phân biệt của nhãn hiệu. Có thể chia thành 2 loại khả năng phân biệt như sau:

 - Nhãn hiệu là dấu hiệu trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác dùng cho cùng loại hoặc tương tự hàng hóa và dịch vụ trong các trường hợp sau:

  • Nhãn hiệu gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được đăng ký bảo hộ và sử dụng tại Việt Nam, hoặc đã nộp đơn trước, hoặc hưởng ngày ưu tiên sớm hơn thời gian nộp đơn trong trường hợp được hưởng quyền ưu tiên.
  • Nhãn hiệu mà Giấy chứng nhận đăng ký  nhãn hiệu đó hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực bảo hộ nhưng thời gian tính từ khi hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực chưa quá 5 năm, trừ trường hợp hiệu lực bị đình chỉ vì lý do nhãn hiệu không được sử dụng.
  • Nhãn hiệu được coi là nhãn hiệu nổi tiếng, cả trong trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng đó được đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu có khả năng làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng.

 - Một nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu trùng hoặc tương tự với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác như sau:

  • Tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ.
  • Chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ, nếu việc sử dụng dấu hiệu có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc sản phẩm của hàng hóa. Đặc biệt, đối với các chỉ dẫn địa lý được đăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh thì các dấu hiệu trùng hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đó không được chấp nhận, nếu dấu hiệu được đăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó.
  • Kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ trên cơ sở đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn.

Tóm lại, khi nghiên cứu xây dựng nên nhãn hiệu của mình, các doanh nghiệp nên có kế hoạch thiết kế và đối chiếu các điều kiện bảo hộ nhãn hiệu từ sớm để chắc chắn nhãn hiệu có thể bảo hộ, hạn chế tối đa những rắc rối pháp lý không đáng có trên chặng đường phát triển thương hiệu.

 

➞ Liên hệ tư vấn đăng ký nhãn hiệu:

Công ty Sở hữu trí tuệ Toàn Cầu - Global Intellectual Property Ltd.Co

Email: sohuutrituetoancau@gmail.com

Hotline Tư vấn: 0965.68.1212

Chăm sóc khách hàng: 0969.203.646

 

Xem thêm:

> Dịch vụ đăng ký nhãn hiệu trọn gói

> Thủ tục đăng ký nhãn hiệu độc quyền

> Quy trình cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu

> Tại sao phải đăng ký nhãn hiệu

Bài viết liên quan

Hỗ trợ trực tuyến

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN
Điện thoại: 096 568 1212

CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG
Điện thoại: 0969 203 646

Email: sohuutrituetoancau@gmail.com